Một số ví dụ thực tế Siêu_lạm_phát

Áo

Năm 1922, lạm phát ở Áo chạm mức 1.426%. Trong 9 năm, từ năm 1914 đến tháng 1 năm 1923, chỉ số giá tiêu dùng tăng 11.836 lần; tờ tiền có mệnh giá cao nhất lúc bấy giờ là 500.000 krone Áo.[10]

Quan sát các phản ứng của Áo trước siêu lạm phát, vốn được thúc đẩy bởi sự ích kỉ và thiếu khả năng chính trị, bao gồm việc tích trữ thực phẩm và đầu cơ ngoại tệ, Owen S. Phillpotts, Bộ trưởng thương mại Đại sứ quán Anh tại Viên (thủ đô của Áo) đã viết: "Áo cũng giống như những người đàn ông trên một con tàu không thể điều khiển nó, và liên tục phát tín hiệu cầu cứu. Trong khi chờ đợi, hầu hết trong số họ bắt đầu cắt bè, mảng ra khỏi mặt sàn. Con tàu vẫn chưa chìm bất chấp sự rò rỉ, và những người - vốn đã có nhiều gỗ bằng cách này - có thể sử dụng chúng để nấu đồ ăn, trong khi các thủy thủ cảm thấy lạnh và đói rét. Người dân ở Áo rất thiếu sự can đảm, nghị lực và lòng yêu nước".[11]

  • Thời gian: Tháng 10 năm 1921 đến tháng 9 năm 1922.
  • Tháng có lạm phát cao nhất: Tháng 8 năm 1922, tỷ lệ lạm phát: 129%[12]

Trung Quốc

Là nước đầu tiên sử dụng tiền định danh, Trung Quốc đã từng 2 lần trải qua giai đoạn siêu lạm phát. Tiền giấy ở đây đã xuất hiện lần đầu tiên dưới thời nhà Đường và được đón nhận rất tích cực. Chúng giữ nguyên được giá trị khi triều đại tiếp theo (nhà Tống) kiểm soát chặt chẽ việc phát hành tiền giấy. Sự tiện lợi của chúng trong các mục đích thương mại đã dẫn đến nhu cầu mạnh mẽ đối với tiền giấy. Khi khung phép trên lượng cung bị phá vỡ, thì siêu lạm phát đã xảy ra.[13]

Nhà Nguyên đã in một lượng lớn tiền định danh để tài trợ cho các cuộc chiến tranh của họ, dẫn đến siêu lạm phát.

Trong thế kỉ 20, Trung Quốc lại tiếp tục trải qua siêu lạm phát, cụ thể là vào những năm 1948 - 1949, khi Trung Quốc đang có nội chiến. Năm 1947, tờ 50.000 yuan là tờ tiền có mệnh giá cao nhất. Đến giữa năm 1948, mệnh giá này là 180 triệu yuan. Trong năm 1948, chính phủ đã thay thế tiền cũ bằng đồng "yuan vàng", theo tỉ lệ 3 triệu yuan cũ đổi 1 yuan vàng. Thế nhưng, trong chưa đầy một năm, mệnh giá cao nhất đã là 10 triệu yuan vàng. Trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, đồng "yuan bạc" đã được giới thiệu với tỉ lệ 500 triệu yuan vàng đổi 1 yuan bạc. Trong giai đoạn siêu lạm phát, tờ tiền có mệnh giá cao nhất là 6 tỷ yuan do Ngân hàng tỉnh Tân Cương phát hành. Sau khi đồng Renminbi (RMB hay nhân dân tệ) được thiết lập bởi chính phủ cộng sản mới, siêu lạm phát chấm dứt; năm 1955 RMB được định giá lại theo tỉ lệ 10.000 RMB cũ đổi 1 RMB mới.

Siêu lạm phát ở Trung Quốc được chia làm 2 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1:
    • Thời gian: Tháng 7 năm 1943 đến tháng 8 năm 1945
    • Tháng có lạm phát cao nhất: Tháng 6 năm 1945, tỷ lệ lạm phát: 302%
  • Giai đoạn 2:
    • Thời gian: Tháng 10 năm 1947 đến giữa tháng 5 năm 1949
    • Tháng có lạm phát cao nhất: Tháng 5 năm 1949, tỷ lệ lạm phát: 2.178%[14]

Đức (Cộng hòa Weimar)

Đến tháng 11 năm 1922, giá trị của tiền vàng trong lưu thông tại Đức (Cộng hòa Weimar) đã giảm từ 300 triệu bảng (trước Thế chiến 1) xuống còn 20 triệu bảng. Ngân hàng Reichbank đã phản ứng điều này bằng cách in ấn tiền mác không kiểm soát, từ đó đẩy nhanh sự mất giá của đồng mác. Lord D'Abernon đã từng viết: "Trong lịch sử, chưa có một con chó nào có thể chạy theo cái đuôi của con chó Reichbank với tốc độ của nó."[15][16] Nhưng đỉnh điểm của lạm phát ở Đức là vào năm 1923. Năm 1922, mệnh giá cao nhất là 50.000 mác. Đến năm 1923, mệnh giá này là 100 nghìn tỷ mác (=1014). Thời điểm tháng 12 năm 1923, tỷ giá hối đoái là 4,2 nghìn tỷ mác (=4,2 × 1012) đổi 1 đôla Mỹ.[17] Trong năm 1923, tỷ lệ lạm phát tăng 3.25 × 106% mỗi tháng (giá cả nhân đôi sau mỗi 2 ngày). Từ 20 tháng 11 năm 1923, đồng mác được thay thế bởi đồng Rentenmark (RM, hay mác mới) theo tỷ lệ 1 nghìn tỷ mác cũ đổi 1 mác mới. Như vậy, tỷ giá mới sẽ là 4.2 RM đổi 1 USD, giống như tỷ giá của đồng mác cũ năm 1914.[17]

Tương tự như ở Trung Quốc, siêu lạm phát ở Đức cũng được chia làm 2 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1:
    • Thời gian: Tháng 1 năm 1920
    • Tháng có lạm phát cao nhất: Tháng 1 năm 1920, tỷ lệ lạm phát: 56.9%
  • Giai đoạn 2:
    • Thời gian: Tháng 8 năm 1922 đến tháng 12 năm 1923
    • Tháng có lạm phát cao nhất: Tháng 11 năm 1923, tỷ lệ lạm phát: 29.525% [12]

Hy Lạp

Sau khi bị Đức chiếm đóng vào tháng 4 năm 1941, đã có sự gia tăng đột ngột về giá cả ở Hy Lạp. Điều này xảy ra là do yếu tố tâm lý liên quan đến tình trạng thiếu cung và tích trữ hàng hóa. Trong thời gian bị Đức và Ý chiếm đóng, sản xuất công nghiệp của Hy Lạp (nông nghiệp, khoáng sản,...) đã được sử dụng để duy trì lực lượng chiếm đóng và luôn đảm bảo sự tiếp tế cho lực lượng Afrika Korps (Quân đoàn châu Phi của Đức).

Khi giá trị xuất khẩu bằng đồng drachma giảm, nhu cầu tiền tệ mới đã tác động đến tỷ giá của nó. Giá các mặt hàng tăng vọt do tình trạng thiếu cung (do phong tỏa hải quân và tích trữ hàng hóa). Các khoản nợ đầu tư cũng đã được xử lý bằng đồng drachma (đảm bảo) của Ngân hàng Hy Lạp (tiền giấy được in ấn riêng để trả nợ). Khi giá tăng, Đức và Ý đòi Ngân hàng Hy Lạp phải bán drachma cho họ để bù đắp cho sự tăng giá này. Vì vậy, nền kinh tế Hy Lạp đình trệ, khiến người dân mất lòng tin vào tiền tệ. Tỉ lệ lạm phát từ tháng 11 năm 1943 đến tháng 11 năm 1944 là 2,5 × 1010%, số tiền lưu thông trên toàn quốc là 6,28 × 1018 drachma và một đồng vàng trị giá khoảng 43 nghìn tỷ drachma.

Năm 1946, nước Anh đề xuất kế hoạch bình ổn cho Hy Lạp, bao gồm việc tăng doanh thu từ bán hàng cứu trợ, điều chỉnh một số thuế suất đặc biệt, cải thiện phương pháp thu thuế và thành lập một Ủy ban tiền tệ để chịu trách nhiệm các vấn đề về tài chính. Đến đầu năm 1947, giá cả được bình ổn, niềm tin của người dân được phục hồi và thu nhập được nâng cao. Khi đó, Hy Lạp chính thức thoát khỏi siêu lạm phát.[18]

  • Thời gian: Tháng 6 năm 1941 đến tháng 1 năm 1946
  • Tháng có lạm phát cao nhất: Tháng 12 năm 1944, tỷ lệ lạm phát: 3 × 1010%

Hungary

Hiệp ước Trianon và bất ổn chính trị những năm 1919 - 1924 đã dẫn đến lạm phát phi mã ở Hungary. Năm 1921, trong một nỗ lực để ngăn chặn lạm phát, quốc hội Hungary đã thông qua cuộc cải cách Hegedüs, trong đó đánh thuế 20% đối với tiền gửi ngân hàng. Hành động này đã làm kết tủa mọi ngờ vực của các ngân hàng công cộng, nhất là những người làm nông nghiệp, dẫn đến hệ quả là làm giảm lượng tiền trong lưu thông.[19] Cuối cùng, chính phủ Hungary phải in tiền không kiểm soát, dẫn đến lạm phát chạm mốc 98% mỗi tháng.

Khi Thế chiến II bùng nổ, nền kinh tế của Hungary đang rất yếu kém, nước này còn mạnh tay áp dụng những chính sách bao cấp cho khu vực kinh tế tư nhân, gây ra tình trạng thâm hụt ngân sách nghiêm trọng. Để đáp ứng nhu cầu của ngân sách, tình trạng in tiền diễn ra ồ ạt.

Năm 1944, mệnh giá cao nhất ở nước này là 1.000 pengő. Đến cuối 1945, mệnh giá này là 10 triệu pengő. Tờ tiền có mệnh giá cao nhất là 100 tỷ tỷ (1020) pengő được in vào khoảng giữa năm 1946. Tình hình trầm trọng đến nỗi chính phủ Hungary phải sử dụng một đơn vị tiền tệ đặc biệt (adópengő) được thiết kế cho trả thuế và bưu chính.[20] Loại tiền này được điều chỉnh hằng ngày qua đài phát thanh. Ngày 1 tháng 1 năm 1946, một adópengő có giá trị tương đương một pengő. Đến cuối tháng 7, một adópengő đổi được 2 nghìn tỷ tỷ (hoặc 2 × 1021) pengő. Đồng pengő đã bị thay thế sau đó trong một lần tái định giá tiền (400 tỷ tỷ tỷ pengő đổi 1 forint), khi đó tổng giá trị của tất cả các tờ tiền Hungary đang được lưu thông ở nước này có giá trị chỉ bằng 1/1.000 đôla Mỹ.[21] Đỉnh điểm của lạm phát tại Hungary là khi nó chạm mức 1.3 × 1016% (giá sẽ tăng gấp đôi sau mỗi 15 giờ).[22]

  • Thời gian: Tháng 8 năm 1945 đến tháng 7 năm 1946
  • Tháng có lạm phát cao nhất: Tháng 7 năm 1946, tỷ lệ lạm phát: 4,19 tỷ tỷ phần trăm.

Triều Tiên

Triều Tiên đã từng trải qua thời kì siêu lạm phát từ tháng 12 năm 2009 đến giữa tháng 1 năm 2011. Căn cứ vào giá gạo, siêu lạm phát ở Triều Tiên đã đạt đỉnh vào giữa tháng 1 năm 2010, nhưng theo tỷ giá trên thị trường chợ đen và các tính toán trên cơ sở sức mua tương đương, tháng cao điểm của lạm phát ở nước này là vào đầu tháng 3 năm 2010. Tuy nhiên, số liệu này là không chính thức và do đó phải được xử lý với một mức độ cẩn trọng.[23]

Philippines

Khi chiếm đóng Philippines vào thời điểm Thế chiến II đang diễn ra, chính phủ Nhật Bản đã ban hành và cho lưu thông tiền định danh. Chính phủ của Cộng hòa Philippines do Nhật tài trợ -do Jose P.Laurel đứng đầu - ban hành chính sách cấm sở hữu các loại tiền tệ khác, nhất là "tiền du kích". Loại tiền định danh này còn được gọi là "peso Mickey Mouse" vì nó tương tự như chơi bằng tiền bạc. Những người sống sót trong chiến tranh thường kể lại câu chuyện họ phải mang vali hoặc túi bayong (túi truyền thống của Philippines, làm bằng dừa hay dải lá buri dệt) tràn ra các hóa đơn do Nhật phát hành.

Trong thời gian đầu, 75 peso có thể mua được 1 quả trứng vịt.[24] Năm 1944, một hộp diêm được bán với giá 100 peso.[25] Năm 1942, mệnh giá lớn nhất được cho phép là 10 peso. Sau đó, vì lạm phát, chính phủ Nhật Bản đã in các tờ tiền mệnh giá 100, 500 và 1.000 peso.

  • Thời gian: Tháng 1 đến tháng 12 năm 1944
  • Tháng có lạm phát cao nhất: Tháng 1 năm 1944, tỷ lệ lạm phát: 60% [26]

Đế quốc Anh - Malaya

MalayaSingapore đã bị Nhật Bản chiếm đóng và thống trị từ năm 1942 đến năm 1945. Người Nhật phát hành một loại tiền đặc biệt, gọi là "tiền chuối" (xuất hiện tứ một mô típ của cây chuối trong tờ giấy bạc 10 đôla) như là một tiền tệ chính thức để thay thế tiền đôla eo biển do người Anh đưa vào lưu hành. Trong thời gian đó, các chi phí thiết yếu tăng mạnh. Khi chiếm đóng thành công, các nhà chức trách Nhật Bản đã in thêm tiền để tài trợ cho các hoạt động chiến tranh của họ, dẫn đến siêu lạm phát và sự mất giá tiền tệ.

Giá trị của 100 đôla eo biển ở thuộc địa của Nhật Bản

  • Tháng 2 đến tháng 10 năm 1942: 100 đôla
  • 1 tháng 8 năm 1945: 10.500 đôla
  • 12 tháng 8 năm 1945: 95.000 đôla
  • Sau 13 tháng 8 năm 1945: Đồng đôla trở nên vô giá trị.[27]

Liên Xô

Siêu lạm phát ở Liên Xô kéo dài khoảng 7 năm, bùng nổ từ những ngày đầu của cuộc cách mạng Bolshevik trong tháng 11 năm 1917, diễn ra trong suốt thời kỳ chiến tranh sau đó. Thời kì siêu lạm phát của Liên Xô đã được đánh dấu bằng 3 lần đổi tiền mà trong đó đồng rúp mới thay thế rúp cũ theo tỷ lệ 10.000 đổi 1 (1 tháng 1 năm 1922), 100 đổi 1 (1 tháng 1 năm 1923) và 50.000 đổi 1 (ngày 7 tháng 3 năm 1924). Giữa năm 1921 và năm 1922, lạm phát ở Liên Xô là 213%.

Để khống chế lạm phát, chính phủ tái lập các tiêu chuẩn vàng với sự ra đời của tiền "chervonets" như là một phần của chính sách kinh tế mới. Cuộc khủng hoảng lạm phát kết thúc vào tháng 3 năm 1924 với sự ra đời của "đồng rúp vàng" như là một tiền tệ tiêu chuẩn của quốc gia

Nam Tư

Nam Tư cũng đã từng 2 lần rơi vào cảnh siêu lạm phát những năm 1989 - 1994. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của Nam Tư là cuộc xung đột ở Bosnia. Chính phủ Nam Tư do Slobodan Milošević đứng đầu đã hậu thuẫn các lực lượng ly khai dân tộc Serbia, khiến Liên hiệp quốc phải ra lệnh trừng phạt kinh tế. Lệnh trừng phạt của LHQ đã khiến nền kinh tế nước này suy yếu, với tỷ lệ lạm phát hàng tháng tăng lên 1.000.000% vào tháng 12 năm 1993 (giá tăng gấp đôi sau mỗi 2,3 ngày).[28]

Mệnh giá cao nhất vào năm 1988 là 50.000 dinar. Năm 1989 mệnh giá này là 2 triệu dinar. Trong cuộc đổi tiền năm 1990, 10 ngàn dinar cũ (thế hệ 1) sẽ đổi được 1 dinar mới (thế hệ 2). Năm 1992, Nam Tư tiếp tục cho đổi tiền: 10 dinar cũ (thế hệ 2) đổi 1 dinar mới (thế hệ 3). Tờ tiền có mệnh giá cao nhất ở nước này (năm 1992) là 50.000 dinar (thế hệ 3). Năm 1993 mệnh giá này là 10 tỷ dinar. Sau đó, Nam Tư cho đổi tiền lần thứ 3 theo tỉ lệ 1.000.000 dinar cũ (thế hệ 3) đổi 1 dinar mới (thế hệ 4). Nhưng trước khi năm 1993 kết thúc, chính phủ phải in những tờ tiền có mệnh giá 500 tỷ dinar. Năm 1994, Nam Tư cho đổi tiền lần thứ 4 theo tỉ lệ 1 tỷ dinar cũ (thế hệ 4) đổi 1 dinar mới (thế hệ 5). Một tháng sau, nước này cho đổi tiền lần cuối cùng theo tỉ lệ 13 triệu dinar (thế hệ 5) đổi 1 novi dinar (dinar thế hệ 6). (Thời điểm đổi tiền, 1 novi dinar có giá trị tương đương 1 đồng mác của Đức.) Như vậy, 1 dinar thế hệ 6 tương đương với khoảng 1.3 × 1027 dinar thế hệ 1.

Lạm phát ở Nam Tư chạm mức 5 × 1015% (lạm phát tích lũy) trong thời gian từ 1 tháng 10 năm 1993 đến 24 tháng 1 năm 1994. Siêu lạm phát ở Nam Tư được chia làm 2 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1:
    • Thời gian: Tháng 9 đến tháng 12 năm 1989
    • Tháng có lạm phát cao nhất: Tháng 12 năm 1989, tỷ lệ lạm phát: 59.7%
  • Giai đoạn 2:
    • Thời gian: Tháng 4 năm 1992 đến tháng 1 năm 1994
    • Tháng có lạm phát cao nhất: Tháng 1 năm 1994, tỷ lệ lạm phát: 313.000.000% [29]

Zimbabwe

Tờ tiền 100 nghìn tỷ đôla Zimbabwe thế hệ 3 (1014 đôla), có giá trị bằng 1027 (hoặc 1 tỷ tỷ tỷ) đôla Zimbabwe thế hệ 1.

Siêu lạm phát ở Zimbabwe là một trong số ít các trường hợp dẫn đến việc từ bỏ đồng nội tệ. Thời điểm Zimbabwe giành được độc lập vào năm 1980, một đồng đô la Zimbabwe (ZWD, thế hệ 1) đổi được khoảng 1,25 đôla Mỹ. Tuy nhiên, lạm phát tràn lan và sự sụp đổ của kinh tế Zimbabwe đã làm giảm giá trị đồng tiền. Lạm phát đã ổn định trước khi Tổng thống Robert Mugabe thi hành chính sách cải cách ruộng đất vào năm 2000: Nông dân da trắng bị tịch thu toàn bộ đất đai và phân phối lại cho nông dân da màu. Chính điều này đã dẫn đến sản xuất thực phẩm bị phá vỡ, doanh thu từ xuất khẩu thực phẩm giảm mạnh và giảm nguồn vốn từ nước ngoài vào.[30][31] Kết quả là chính phủ của ông Mugabe và Ngân hàng Dự trữ Gideon Gono phải in rất nhiều tờ tiền có mệnh giá cao hơn.

Siêu lạm phát đã bắt đầu từ sớm trong thế kỉ 21, đạt 624% vào năm 2004. Nó đã giảm xuống còn 3 chữ số nhỏ trước khi tăng trở lại lên 1.730% vào năm 2006. Ngày 1 tháng 8 năm 2006, Ngân hàng Dự trữ Zimbabwe cho đổi tiền theo tỷ lệ 1.000 ZWD đổi 1 đôla thế hệ 2 (ZWN), nhưng lạm phát năm tính đến tháng 6 năm 2007 đã lên đến 11.000% (so với dự báo 9.000%) trước đó. Trong năm 2008, Ngân hàng Dự trữ Zimbabwe đã dần dần phát hành những tờ tiền có mệnh giá lớn hơn:

  • 5 tháng 5: Giấy bạc hoặc "séc vô danh" mệnh giá 100 triệu ZWN và 250 triệu ZWN.[32]
  • 15 tháng 5: Những tờ séc vô danh mới được đưa vào lưu thông, mệnh giá 500 triệu ZWN tương đương 2,5 đôla Mỹ.[33]
  • 20 tháng 5: Tờ tiền mới ("séc nông nghiệp") được lưu hành, mệnh giá 5 tỷ, 25 tỷ và 50 tỷ.
  • 21 tháng 7: Séc nông nghiệp mệnh giá 100 tỷ ZWN.

Lạm phát ở Zimbabwe vào thời điểm 16 tháng 7 đã tăng lên 2,2 triệu % [34] và một số nhà phân tích cho rằng lạm phát đã vượt qua mức 9 triệu %.[35] Thời điểm ngày 22 tháng 7 năm 2008, 688 tỷ ZWN mới đổi được 1 đôla Mỹ, hoặc 688 nghìn tỷ ZWD.[36]

Ngày 1 tháng 8 năm 2008, đồng đôla Zimbawe được định giá lại theo tỷ lệ 1010 ZWN đổi 1 đôla thế hệ 3 (ZWR).[37] Ngày 19 tháng 8, con số lạm phát chính thức được công bố: lạm phát vào tháng 6 là 11.250.000%.[38] Thời điểm tháng 7 năm 2008, lạm phát năm của Zimbabwe là 231.000.000% (giá sẽ tăng gấp đôi sau mỗi 17,3 ngày). Đến tháng 10 năm 2008, Zimbabwe bắt đầu sa lầy vào vũng bùn mang tên "siêu lạm phát" với mức lương không thể đuổi kịp trước sự tăng tốc của lạm phát.

Trong nền kinh tế này, hoạt động của nhiều bệnh viện và trường học bị gián đoạn vì nhiều bác sĩ, y tá và giáo viên không có khả năng trả tiền vé xe buýt để làm việc. Thủ đô của Zimbabwe, Harare, gần như không có nước sinh hoạt. Trong lúc đang cần ngoại tệ để duy trì hoạt động của chính phủ, thống đốc ngân hàng trung ương Zimbabwe, Gideon Gono đã cho người mang các vali chứa đôla Zimbabwe chạy trên đường phố để tìm kiếm chỗ mua bán đôla Mỹ và rand Nam Phi.[39]

Từ sau tháng 7 năm 2008 trở đi, chưa có báo cáo chính thức nào về lạm phát của Zimbabwe được đưa ra. Giáo sư Steve H. Hanke, để giải quyết vấn đề, đã tính toán tỉ lệ lạm phát ở nước này trong giai đoạn sau tháng 7 năm 2008 và xưất bản các Chỉ số Siêu lạm phát của Hanke cho Zimbabwe.[40] Các tính toán của Hanke (gọi tắt là HHIZ) đã chỉ ra rằng lạm phát năm đã đạt đỉnh ở mức 89.7 nghìn tỷ tỷ % (89.700.000.000.000.000.000.000%) vào giữa tháng 11 năm 2008. Tỉ lệ lạm phát tháng cao điểm là 79,6 tỷ %, tương đương với tỉ lệ lạm phát ngày 98% và tỉ lệ hằng năm là khoảng 7 × 10108 %. Với tỉ lệ này, giá cả sẽ nhân đôi sau mỗi 24,7 giờ. (Lưu ý rằng phần lớn các con số tính toán ở trên chỉ được xét chủ yếu trên lý thuyết, khi siêu lạm phát đã không duy trì ở tốc độ đó trong cả năm.) [41]

Vào thời cao điểm tháng 11 năm 2008, tỷ lệ lạm phát ở Zimbabwe đã tiếp cận (nhưng không phá được) kỷ lục thế giới ở Hungary năm 1946. (Tháng 7 năm đó, tỷ lệ lạm phát ở Hungary là 4,19 tỷ tỷ phần trăm.)[41] Ngày 2 tháng 2 năm 2009, đồng đôla đã được định giá lại lần thứ tư với tỷ lệ 1012 đôla thế hệ 3 (ZWR) đổi 1 đôla thế hệ 4 (ZWL), chỉ 3 tuần sau khi tờ tiền 100 nghìn tỷ đôla được đưa vào lưu thông (ngày 16 tháng 1),[42] nhưng siêu lạm phát đã suy yếu dần vì tỉ lệ lạm phát chính thức bằng đôla Mỹ được công bố và các giao dịch nước ngoài được hợp pháp hóa,[41] và đến ngày 12 tháng 4, đôla Zimbabwe chính thức bị loại bỏ khỏi lưu thông.

  • Thời gian: Tháng 3 năm 2007 đến giữa tháng 11 năm 2008
  • Tháng có lạm phát cao nhất: giữa tháng 11 năm 2008, tỷ lệ lạm phát: 79,6 tỷ %.[43]

Venezuela

Siêu lạm phát ở Venezuela là siêu lạm phát mới nhất xảy ra trên thế giới. Là một trong những nước có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới, 90% thu nhập tài chính của Venezuela đều dựa vào xuất khẩu dầu. Chính quyền của tổng thống Maduro cho rằng, các thế lực ngoại bang do Mỹ cầm đầu đã cấu kết với các phe nổi loạn trong nước để phát động “chiến tranh kinh tế”. Trong khi đó, những người phản đối thì cho rằng ông Maduro thi hành chính sách bất cập, khiến vật giá leo thang, thực phẩm và thuốc men ngày càng thiếu hụt.

Tháng 1/2018, đồng nội tệ (bolivar) của nước này bị mất giá trị lên đến 98% so với cùng kỳ năm 2017. Thời đó, lương tháng tối thiểu của nước này là dưới 4 đôla Mỹ. Theo IMF (Quỹ Tiền tệ Thế giới), tỉ lệ lạm phát tại nước này có thể lên đến hơn 1.000.000% (giá sẽ tăng gấp đôi sau mỗi 2,3 ngày). Lạm phát ở nước này cao đến mức người dân phải tới các chợ đen ở ngoại ô thủ đô Caracas để mua các nhu yếu phẩm khó tìm như xà phòng, dầu gội đầu, bột ngô hay gạo. Kinh tế sa sút cùng với tình trạng thiếu thốn lương thực khiến cân nặng trung bình của người dân Venezuela giảm xuống trung bình 11 kg trong năm 2017. Thời điểm đó, 90% dân số nước này sống trong nghèo khổ. Ngoài ra, vì lạm phát quá cao nên người dân thường cân tiền thay vì đếm tiền như trước.

Cuối tháng 8 năm 2018, theo các thị trường chợ đen tại Venezuela, 6,6 triệu bolivar có thể đổi được 1 đô la Mỹ.

Sau đó, những biện pháp giải quyết cuộc khủng hoảng được Tổng thống Nicolas Maduro công bố ngày 17/8/2018 và có hiệu lực vào ngày 20/8.

Các nỗ lực cải cách kinh tế bao gồm tăng lương tối thiểu lên 60 lần, giảm giá trị đồng tiền xuống 95%, xóa 5 số 0 trên đồng nội tệ bolivar, phát hành tờ tiền mới có tên Bolivar Soberano.

  • Thời gian: Năm 2014 đến cuối tháng 8 năm 2018
  • Tháng có lạm phát cao nhất: tháng 8 năm 2018, tỷ lệ lạm phát: 1.000.000%[47]

Tài liệu tham khảo

WikiPedia: Siêu_lạm_phát http://howfiatdies.blogspot.com/2013/09/hyperinfla... http://www.businessinsider.com/7-gasoline-thanks-b... http://www.dailynk.com/english/market.php http://economictimes.indiatimes.com/Zimbabwe_issue... http://www.latimes.com/news/local/valley/la-tr-phi... http://af.reuters.com/article/topNews/idAFKBN0JN1J... http://www.sammler.com/coins/inflation.htm http://www.thezimbabweindependent.com/index.php?op... http://www.zimbabweanequities.com/ http://www.zimbabwesituation.com/nov14_2008.html#Z...